Các vấn đề đặt ra: suy ngẫm và giả thyết p2

21:04 |
Các vấn đề đặt ra: suy ngẫm và giả thyết p2

3* Các giả thuyết.
Thưa quý vị đại biểu, qua hai năm thực nghiệm trên cớ thể của chính minh, qua quan sát, nghiên cứu và xử lý thống kê hàng vạn các ca bệnh, qua thực thi hướng dẫn luyện tập DSTT để đẩy lùi hàng trảm ca bệnh, qua nghiên cứu tài liệu có liên quan, qua các cuộc đàm đạo với nhau, với các anh em miền Nam (những người đi trước chứng tôi về mặt thực hành một bước), qua những câu trả Lòi lúc nào cũng giản dị và chân thành hết mức của má Hai Hương... Chứng tôi bước đầu mạnh dạn đưa ra một số giả thuyết mang tính chất thăm dò. Các giả thuyết này, thường là chúng tôi tó sự đồng tình với tác giả nào đó. Hầu hết không phải là những vấn đề hoàn toàn mới đối với các nước trên thế giới.
1-   Phải chăng còn có cuộc sống sau cái chết (the life after life)?   Phải chăng ngoài thế giới hữu hình còn có thế giới vô hỉnh và giữa chúng có những tương tác có liên quan đến sức khoẻ con người?
2-Phải chăng con người còn có rất nhiều khả năng tiềm ẩn mà chứng ta chưa phát hiện ra, một khi chịu một xung (conflict) nào đó (thì đối với một số người) khả năng đó sẽ xuất hiện (hiện tượng Nguyễn Vân Chiều, Tổn Nữ Hoàng Hương...)
3-Phải chăng nguồn năng lượng vũ trụ cũng có khả năng khơi dậy nguồn khả năng tiềm ẩn của con người?   Phải chăng cơ thế con người có câu trúc hêt sức tinh vi và tuân theo một trật tự rất nghiêm ngặt, một khi trật tự đó bị phá võ con người sè bị bệnh, để ]ập lại trật tự, con người cần được nạp năng lượng. DSTT trao cho con người năng lượng đó?
4-    Phải chăng bao quanh mỗi người luôn có một trường năng lương (hay trường hào quang), một người khoe mạnh trường năng lượng này cân xứng; một khi vì ly do nào đó trường này bị sai lệch.
5-  Phải chăng ngày càng có nhiều mối liên hệ giữa Trời và Đất mà sự tương tác giữa chúng có liên quan đến đời sống và sức khoẻ con người? Con người sống giữa trời đất phai cản bằng ầm dương mới khoẻ mạnh? Quá nóng cũng sinh bệnh, mà quá lạnh cùng sinh bệnh?
6- Phải chăng trong vũ trụ còn tồn tại một loại vật chất vô hình lớn gấp nhiều lần lượng vật chất hữu hình mà người thường chúng ta cơ thể cảm nhận được?
7-     Phải chàng lòng nhàn hậu, tình thương yếu cũng có năng lượng? '
8-    Phài chăng đúng như má Hai nói: "Năng lượng cua DSTT là nàng lượng của trời của đất, của mặt trăng mặt trời, của cây cỏ... (tức năng lượng vũ trụ); năng lượng của DSTT còn là nâng lượng của lòng nhân hậu. của tình thương yêu"...

Đọc thêm tại:

http://duongsinhtamthe.blogspot.com/2014/08/noi-dung-co-ban-cua-viec-duong-sinh-tam.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: dưỡng sinhkhỏe mạnh


Các vấn đề đặt ra: suy ngẫm và giả thuyết p1

20:57 |
Các vấn đề đặt ra: suy ngẫm và giả thuyết p1

1-  Các vấn để đặt ra:
1- DSTT có thể làm thay việc của ngành y tế được không?
2- Luyện tập DSTT có thể khỏi được tất cả các bệnh hay không?
3- Người tham gia tập luyện DSTT có cần tham gia tập luyện suốt đời không? Vấn đề hiệu ứng phụ?
4- Tại sao con người lại mắc bệnh? Quan niệm của DSTT vể vấn đề này là gì?
5- Cơ chế khỏi bệnh do luyện tập DSTT?
6- Tại sao để luyện tập DSTT thành công cứ phải có biểu đức?
 7-  Tại sao má Hai Bình Định lại có khả năng phi thường như vậy?
8-  Tại sao khi luyện tập DSTT lại hít thở bằng miệng mà không phải bằng mũi như các môn phái khác?
9- Vấn đề của các nước uống sau khi tập?
10- Tại sao cùng một người hướng dẫn lậỉ có những hiệu quả khác nhau cho các đối tượng khác nhau?...
2- Những suy ngẫm và vài lời giải đáp.
Trước hết phải khẳng định một điều là DSTT không thể làm thay công việc của ngành y tế, DSTT chỉ nhằm mục đích dưỡng sinh, tức nuôi dưỡng, làm lành mạnh "thân", '’biểu” để tăng cường sức khoẻ đẩy lùi bệnh tật. Nó không thể làm thay công việc của ngành y tế, mà trong nhiều trường hợp cá tác dụng hỗ trợ cho các hoạt động y tế (thí dụ các bệnh nhân sau các ca cấp cứu cần được ngủ ngon, cần được truyền năng lượng từ nhiều phía để nhanh chóng hồi phục, lúc này DSTT có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho các bác sỹ). Mặt khác trong nhiều trường hợp chúng tôi cần, rất cần sự hỗ trợ của ngành y về chuyên môn và các thiết bị kiểm chứng.
DSTT cũng như mọi ngành khoa học khác, củng cố mặt mạnh, mặt yếu, có những khu vực chống chỉ định. Qua quan sát, theo dõi trên 3 vạn ‘ca bệnh chúng tôi thấy rằng luyện tập DSTT có hiệu quả tốt đối với những chứng bệnh có tính mãn tính và nan y như bệnh huyết áp, hen xuyễn, đau dạ dày, vẩy nến, tiểu đường," bướu có, các loạỉ u, dị ứng không rõ nguyên nhân, các ỉoại u...Các bệnh cấp tính (thí dụ chảy máu dạ dày, đau ruột thừa, giun chui ống mật...) và các bệnh do thú dại cắn,... là khu vực ĐSTT không có tác dung.


Mặt khác, qua quan sát theo đôi việc tập luyện, cộng với những phân tích logic chúng tôi thấy tập luyện DSTT không có phản ứng phụ. Ngoài ra, người đã tham gia tập luyện DSTT không nhất thiết phải tập luyện phần "thân" suốt đòi. Tuy nhiên, phần tu biểu dưỡng tính thì lại phải thường trực suốt đời« nếu không bệnh sẻ trở lại [2J.

Đọc thêm tại: http://duongsinhtamthe.blogspot.com/2014/08/cac-van-e-at-ra-suy-ngam-va-gia-thyet-p2.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: duong sinhkhoe manh

Những nét riêng biết DSTT khi má Hai Hương làm trưởng môn

20:53 |
Những nét riêng biết DSTT khi má Hai Hương làm trưởng môn

1-    Khác với các môn phái khác, DSTT của má Hai Hương,má chúng tôi tạm gọi tắt là DSTT, không đặt tinh, kiên trì, sự khổ luyện phần "thân” lên hàng đầu, mà đòi hỏi cái "biểu" thiện, trong sáng lên hàng đầu. Yêu cầu trước hết và trên hết đối với người tham gia luyện tập DSTT là phải có lòng lành và biểu hồn yên tĩnh, thương người, mến vật.
2-    Tính chất biến động (Variability) của DSTT.
Khác với Yoga. Thiến, Khí công... Một người tập luyện DSTT lâu chưa chắc đã giỏi hơn một người mới tham gia tập luyện. Người đã tập luyện giỏi tới mức có thể đi hướng dẫn người khác tập luyện để khỏi bệnh cũng chưa chốc sẽ giỏi mãi, nếu cái biểu không còn trong sáng thì khả năng hướng dẫn mất đi và bệnh tình trở lại.
3- DSTT không chỉ khổ luyện là có.
DSTT mang lại sức khoẻ cho tất cả những ai lòng lành và biểu hổn yên tĩnh, không phân biệt Tổn gi áo, Chúng tộc, màu da, glàu nghèo... Cối yếu cầu tưởnỊ? chồng như quá  đơn giản ấy lại trở nên quá khó đối với một số ít người, nhất là trong cơn lốc của nền kinh tế thị trường ngày nay.
4- Khả năng hướng dẫn của hướng dẫn viên (HDV).
HDV của DSTT có thể một lúc hưdng dẫn tập luyện hàng trăm người (2). Sự mất sức của HDV không tỷ lệ thuận vô số người được hướng dẫn tập luyện.
5- Tập luyện DSTT phải tự ĩiguyện. Cái "duyên'* mà Má Hai Hương thường nhấn mạnh ồ một khí nảo đó, có thể hiểu theo nghĩa: DSTT chỉ có tác dụng tốt đốì vd! những ai tự nguyện, tìm tối, không phô trương tuyên truyền. Không níu kéo, mời mọc.
6- Phương pháp tập luyện phần "thân" của DSTT.
Đơn giản  dường như là một bài thể dục tự do. Sự vận động tuỳ thuộc vào sở thích người tập. Động tác chù yếu là xoa, vuốt vỗ và cuối cùng là hít, thở bằng miệng và uống một các nưdc sau khi tập.
DSTT mà Má Hai Hương làm trưởng môn, đã có từ lâu, đã mang lại sức khoẻ và trả lại họ về cuộc sống lao động đòi thường có tới hàng triệu, hàng triệu người. Tuy nhiên, mọì hưống dẫn chỉ thông qua truyền khẩu. Những tài liệu mà quí vị có trong tay, dù còn rất đơn sơ, mà cũng chỉ mổi 1 mức lưu hành nội bộ, có thể xem như những ấn loát đầu tiên.

Thưa quý vị, vì tính hiệu quả đến ngạc nhiên trong nâng cao sức khoẻ đẩy lùi bệnh tật cho chính mình, cho gia đình và người thân, và còn vì tính nhân văn cao của DSTT, chúng tôi, những người làm khoa học, đến với DSTT rất tự nguyện, với ý thức thường trực là sẵn sàng hy sinh, và với lòng đam mê tìm kiếm khoa học. Hàng loạt các câu hpri luôn đeo đuổi chúng tôi.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: duong sinh tam thekhỏe mạnh


Quan niệm về sự khỏe mạnh

20:48 |

Nhiều người nghĩ đơn thuần "khoẻ" là béo tốt, vai u thịt bắp, ăn no vác nặng. Đó là khoẻ bắp. Còn phải khoẻ cả nội tạng bên trong (tim, gan, tỳ, vị...). Song cơ thể con người không chỉ có thịt xương, nội tạng. Đó mới chỉ là phần "thân'? hay "thể xác" (mà theo ngôn từ khoa học là phần vật chất hữu hình). Còn phần thứ hai là phần "biểu" ngôn từ dân gian là phần "hồn"; ngôn ngữ triết học gọi là phần "tinh thần", các nhà khoa học gọi là phần vật chất vô hình ("biểu" là một dạng năng lượng sinh học mà đông y gọi là ”khí, "biểu” tiếng Pháp là esprit, tiếng Anh là spirit, bắt nguồn từ gốc latinh spiritus nghĩa là sinh khí (í). Mặc dù dạng năng lượng này tồn tại cùng với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của con người trên trái đất, những danh y từ thời xa xưa đã cảm nhận được nó và sử dụng trong trị bệnh, tuy nhiên đến tận thế kỷ XX này khoa học hiện đại mới công nhận dạng năng lượng đó có thực).
Trong cuộc sống con người, phần biểu và phẩn "thể' gắn bó chặt chẽ ảnh hưởng lẫn nhau, cả hai đều phải tốt lành thì con người mới khoẻ mạnh. Đạo Phật nói "Thân tâm an lạc”. Có thể so sánh ’'biểu” là dòng điện, "thế là dây dẫn. Nếu dây đứt chập mạch sẽ phải tắt điện. Dù dây tốt nhưng điện yếu, chập chờn đèn cũng không sáng. Hoặc điện quá tải có thể làm cháy dốy dẫn, đèn cũng không thể sáng. 
Bởi vậy muốn rèn luyện sức khoè phải chú trọng cả phần "biểu" lẫn phần "thể".Có thể xem tất cả các môn phái tập luyện "thân’1 "biểu" để khoẻ mạnh, để nâng cao sức khoẻ đẩy lùi bệnh tật, đểu là DSTT. Có rất nhiều môn DSTT đã có từ những thời xa xưa và ngày cảng phát triển trén phạm vi toàn cầu, mà trước hết phải kể đến các nước như Án Độ, Trung Hoa, Nhật Bàn... với các môn như Yoga, Thiển, Khí Công, Thái Cực Quyền... ở Việt Nam gẩn đây có phương pháp nhân điện của Nguyễn Đình Phư, Biểu náng dưỡng sinh của ông Nguyễn Văn Chiều, Khí công của võ sư Bùi Long Thành,... DSTT mà bà Tổn Nữ Hoàng Hương là truvển nhân duy nhất là môn DSTT độc đáo của nền y học có truvền Việt Nam, đã có từ lâu nhưng chưa được đẩu tư nghiên cứu, nâng lên thành lý luận, để mở rộng tầm hoạt động trên toàn châu lục.


Dưỡng sinh biểu thể thuộc lĩnh vực khoa học nào

20:44 |
Dưỡng sinh biểu thể thuộc lĩnh vực khoa học nào
       
Cho tới nay người ta tạm phân ra 2 lĩnh vực khoa học: đó là khoa học lý thuyết và khoa học thực nghiệm. Khoa học lý thuyêt là ngành mà về cơ bản người ta xây dựng lý thuyết bằng những suy diễn logic hình thức xuất phát từ một hệ tiêu đề hay một mô hình toán nào đó (nhưng phải chú ý là ngay cả những hệ tiên đề hay một mô hình toán cũng xuất phát từ những quan sát thực tế, thí dụ hệ tiên đề của hình học Euclide, của cơ học Newton...). Các ngành như toán, vật lý lý thuyết... thuộc lĩnh vực này. Trong các ngành khoa học lý thuyết, xuất phát từ hệ tiên để, người ta đã xây dựng được các lý thuyết khoa học và ứng dụng những lý thuyết này vào thực tiễn. Thí dụ: dựa trên thành tựu kỳ điệu trong khoa học vũ trụ, công nghệ thông tin...
Ngành khoa học thực nghiệm là các ngành khoa học dựa trên các quan sát, dựa trên các kết quả thực nghiệm, thông qua xử lý thông kê và các xử lý khoa học khác, rồi rút ra những quy luật hữu dụng vì mục đích của con người. Các ngành khoa học như Hoá, Sinh, Địa Chất... thuộc lĩnh vực khoa học này. Thí dụ: những thành tựu trong công nghệ sinh học, công nghệ dầu khí... gắn liền với các ngành khoa học thực nghiệm nói trên.
Tuy nhiên, việc phân chia khoa học thành các ngành khoa học lý thuyết và khoa học thực nghiệm cũng chỉ là tương đôi. Nó chỉ có ý nghĩa nói lên mức độ nặng nhẹ và trước sau giữa lý thuyết và thực nghiệm. Trên thực tế không có ngành khoa học nào chỉ có lý thuyết hoặc chỉ có thực nghiệm. Thí dụ: dựa trẽn lý thuyết vế trường hấp dẫn và trường điện từ, người ta nghiên cứu tìm ra loại chất đốt cố khả năng đẩy  tàu vũ trụ vượt ra khỏi trường hấp dẫn của trái đất... tuy nhiên để tới lúc đó, người ta đã phải tiến hành hàng loạt cắc cuộc thử nghiệm.
Phương pháp luyện tập DSTT (để đẩy lùi bệnh tật hiện nay thuộc lĩnh vực của khoa học thực nghiệm. Nó đang trong giai đoạn tích luỹ các tri thức thực nghiệm về vũ trụ với sức khoẻ con người và bước đầu đưa ra các giả thuyết.


Dưỡng sinh biểu thể với phương pháp luyện biểu

20:33 |
Dưỡng sinh biểu thể với phương pháp luyện biểu

Người Việt Nam thường hay nói đến chữ "Biểu". Ai cùng đề cao chữ Tâm "chữ Biểu kia mài bằng ba chữ Tài". Nhưng nội đung của chữ "Tầm” là gi? Làm sao ta thấu  được, càng không thể nói thành lời. Muốn có Biểu thì phải tu luyện. DSTT của má Hai Hương chủ trương cụ thể hoá cái Biểu thành các nội dung sau:
1- Giữ yên lặng, bình tĩnh, lúc nào cũng muốn mọi người được khoẻ mạnh, được sống hạnh phúc, bình an, hiền hoà.
2- Hiếu lễ vớì tổ tiên, ông bà, cha mẹ: sống yêu thương chăm sóc.
3- Biết kính trên, nhường dưới đoàn kết, cùng nhau chia sẻ vui buồn.
4- Không tham,  ganh ghét, cố chấp.
5- Không nghiện rượu chè, cờ bạc,  tà dâm.
Biểu lý rất phổ thông, mang lại hiệu quả lớn trong nếp sống văn hoá,văn minh, mà lại chứa đựng tính nhân văn, tính dân tộc sâu sắc. Chúng tôi gọi đây là phương pháp “Trời cho" con người để tự cứu mình. Chúng tôi nhấn mạnh ba chữ "Tự cứu mình . Bời vì không ai có thể tập luyện thở hít, xoa, vỗ, vuốt thay cho chính ta. Và không ai có thể dẹp bỏ tham, sân, si chìm sâu trong chính ta.
Chúng tôi tiếc cho ai đã biết tác dụng của DSTT mà không đủ kiên nhẫn tập luyện hàng ngày. Họ ỷ lại các phòng Mátxa? Mátxa xong rồi đâu lại hoàn đấy, không cẩn thận mang bệnh vào thân. Họ trông cậy vào thuốc. Đến lúc cơ thể nguội lạnh, chán nản, buồn bố, thuốc gì chữa khỏi?
 Năng lượng sống trong mỗi người phải được bồi bổ hằng ngày qua DSTT, cội nguồn của yêu thương. Nếu trong cuộc sống, người nọ biết xoa, vỗ, vuốt, truyền năng lượng cho người kia, tình yếu thương con người sẽ nhân lên gấp bội. Trong một báo cáo tham luận hội thảo Châu á vể giáo dục, tôi đã để nghị Bộ giáo dục nghiên cứu đưa DSTT, dòng suối mốt lành của sức khoẻ và nhân dân vào nhà trường dạy học sinh. 
Tuy vậy, chúng tôi nghĩ cái gì hay, cái gì đẹp sẽ được dân gian truyền đến muốn người, muốn đời. DSTT giờ đây đang toả sức sống tới cộng đồng qua sự truyền cảm đầy nỗ lực và sự hy sinh đãng kính trọng của Má Hai Hương. Rồi đây, ngườị này sẽ truyền cho người khác, phương pháp luyện tập DSTT "Trời cho "này. Và nó sẽ được truyền tới mai sau .


Từ khóa tìm kiếm nhiều: the duc duong sinhkhỏe mạnh


Phương pháp vỗ các bộ phận nội tạng

20:14 |
Phương pháp vỗ các bộ phận nội tạng

DSTT đã sử dụng phương pháp xoa, vuốt, vỗ các nội tạng là một phương pháp dưng sinh c truyền Trung Hoa, mà chúng tôi đọc được trong tạp chí Sức khỏe và đời sống (số 179 - tháng 6 • 2002). Đó là bài tập Bát quái, một bài tập công pháp, lưu truyền trong nhân dân, chủ yếu dùng phương pháp vỗ, đập bên ngoài để tăng cường sự hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể, có tác dụng dưỡng sinh, tăng cường sức khoẻ. Phương pháp tập Bát quái gồm vỗ kết hợp với thở, vỗ dạ dày, vỗ huyệt khí hải, vỗ ruột, vỗ phổi trái, vỗ phổi phải, vỗ lườn trối, vỗ lườn phải, vỗ gan và tỳ.
Má Hai Hương thật tuyệt vời, người đã thu tinh hoa của dân tộc và nền minh triết phương Đông kỳ diệu vào hai bàn tay nhở nhắn hiền hoà, khiêm nhường truyền đến cho dân nghèo nơi "hang cùng thuỷ tận" mà chẳng cần lý luận, triết lý, sách vở gì.
Đọc cuốn sách "Hỏi đáp giải phẫu sinh lý người" của GS Lê Quang Long (NXB Giáo dục 2002) trang 59 có giới thiệu người tìm ra dòng điện sống trong cơ thể là Gaỉvani (1737 - 1789) một danh y người Italia. Đó là nguồn điện sinh học trong cơ thể người và động vật. Khoa học công nhận trong cỏ cây, hoa lá, côn trùng, tôm cá, chim thú và Bản thân con người chứa một nguồn "điện sinh học”, gọi chúng là năng lượng. Và mặt trời, trăng sao, mặt đất... cũng đều chứa năng lượng trong sự cân bằng âm dương.
 Phương pháp DSTT, luyện tập nhằm khơi dậy năng lượng của vũ trụ, cỏ cây, hoa lá...) nhằm làm tăng năng lượng cho mình và điểu hoà âm dương để điều hoà cho cơ thể con người trở lại trạng thái cân bằng âm dương, lục phủ ngũ tạng được hoà đồng. Đó là cơ sở khoa học để phục hồi sức khoẻ và đẩy lùi bệnh tật. Khi người khoẻ mạnh, nguồn điện sinh học dồi dào, phát sinh nảng lượng mới, ỉạỉ tác động truyền sang chữa bệnh cho người khác thông qua xoa, vuốt, vỗ... tạo ra hiệu quả của DSTT. Hiện tượng này không có gì huyển bí, mà sự thật, nộ làm tăng sức khoẻ, tỉnh thương trong cộng đồng.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: dưỡng sinh, duong sinh, duong sinh tam the, dưỡng sinh tâm thể, the duc duong sinh, thể dục dưỡng sinh, the duc duong sinh nguoi cao tuoi, thể dục dưỡng sinh người cao tuổi, khỏe mạnh, khoe manh


Mối quan hệ giữa dưỡng sinh biểu thể và ngành y tế p2

20:05 |
Kính thưa má Hai Hương - Trung biểu Dưỡng sinh biểu thể;

Mối quan hệ giữa dưỡng sinh biểu thể và ngành y tế p2

Kính thưa các vị đại biểu, các vị khách quý.
 Nếu biết kết hợp hài hoà giữa DSTT và ngành y tế để bổ sung cho nhau, tất sẽ mang lại sức khoẻ rất tốt cho cộng đồng, góp phẩn xã hội hoá y tế cộng đồng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Đặc biệt đối với người cao tuổi, có một quá trình dài tích tuổi, và tích các bệnh mãn tính nan y, tìm đến với DSTT, tôi cho là điều thích hợp và may mắn nhất.
Vốn quý nhất của con người là sự sống. Vốn quý nhất của sự sống là sức khoẻ. Có sức khỏe là có tất cả. DSTT là môn luyện tập hiền hoà, đem lại sức khoẻ cho mọi người, mọi nhà, đẩy lùi bệnh tật với phương pháp tập đơn gin, hiệu quả, an toàn, nhân đạo, khoa học. DSTT giúp mọi người, moi nhà tìm về với cội nguồn, hướng đến Chân * Thiện - Mỹ, biết đặt lợi ích cái tôi sau lợi ích toàn thể, khuyên con người không ngừng tu biểu dưỡng tính, luôn biết tỉnh tốỡ khiêm nhường để học hi đi lên. Xã hội hoá DSTT, một môn luyện tập vốn quý của dân tộc, giúp cho chúng ta gìn giữ được các giá trị đạo đức truyền thống do ông cha để lại. Dân manh, nước giàu, xây đắp một xã hội thực sự lành manh văn minh là ước muốn Chúng của mọi quốc gia, mọi dân tộc.
Chúng tôi xin bày tỏ sự đổng cảm và biểu đắc với Bàn tham luận lần thứ hai nói về "Vũ trụ song song hay thế giới đa chiều vói DSTT và các giả thuyết” của PTS Đặng Kim Nhung - Chúng ta đều hy vọng rằng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học trong tương lai, ánh sáng khoa học sẽ giúp chúng ta lý giải, khám phá ra bao điều kỳ thú đo DSTT mang lại mà ngày nay chúng ta chưa hiểu biết.
Những ý kiến tham luận của chúng tôi trên đây mới chỉ là những nhận xét bước đầu. Chắc chắn rằng không tránh khỏi những khiếm khuyết. Chúng tôi rất mong được học hởi nhiều điểu bổ ích từ Trung biểu DSTT cũng như từ các vị đại biểu, các vị khách qúy có mặt hôm nay.
Xin chân thành cám ơn sự chú ý lắng nghe của các vị.

Mối quan hệ giữa dưỡng sinh biểu thể và ngành y tế p1

20:02 |
Mối quan hệ giữa dưỡng sinh biểu thể và ngành y tế p1

Cả hai có cùng mục đích vì sự nghiệp Bào vệ sức khỏe cho cộng đồng xã hội. Nhưng cả hai không thể thay thế cho nhau được - ngành y tế với nền y học hiện đại tập trung vào lĩnh vực vật lý, khía cạnh hữu hình của bệnh tật là chủ yếu. DSTT tập trung vào lĩnh vực phi vật lý, khía cạnh vô hình của bệnh tật là chủ yếu. Ngành y tế ưu thế trong điều trị các bệnh cấp cứu nhiễm trùng cấp tính, ngộ độc cấp tính, tai nạn các loại, là các bệnh có tổn thương thực thể là chủ yếu, phần "thể" được đặt lên hàng đầu.

- DSTT ưu thế tập trung vào các bệnh mãn tính, kể cả một số bệnh nan y, các bệnh có tổn thương cơ năng là chủ yếu, phần "biểu" được đặt lên hàng đầu. Ngành y tế giúp DSTT kiểm chứng kết quả tập luyện bằng cách so sánh các thăm khám lâm sàng, các thông số" cận lâm sàng trước và sau tập luyện. DSTT giúp cho ngành y tế khi con người chưa mắc bệnh, tập luyện để nâng cao sức khoẻ, ngăn ngừa bệnh tật - Khi mắc bệnh mãn tính và cả khi mắc bệnh cấp tính, nhưng cần giúp cho người bệnh ăn ngủ ngon, bình biểu tĩnh trí thì tác động của luyện tập DSTT đều rất thích hợp. Không phải tất cả bệnh tật ngành y tế đều giải quyết hết được. Cũng không phải tất cả bệnh tật DSTT đểu giải quyết hết được. Mỗi bên đều có những "miền đất trông" và có những "thế mạnh riêng không giống nhau. 
Nếu biết kết hợp hài hoà giữa DSTT và ngành y tế để bổ sung cho nhau, tất sẽ mang lại sức khoẻ rất tốt cho cộng đồng, góp phẩn xã hội hoá y tế cộng đồng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Đặc biệt đôi với người cao tuổi, có một quá trình dài tích tuổi, và tích các bệnh mãn tính nan y, tìm đến với DSTT, tôi cho là điều thích hợp và may mắn nhất. Đó cũng chính là lý do tôi tham gia tập DSTT và hướng cho ngưdi khác tập. Luôn luôn mong muốn được học tập nhiều hơn nữa ở Trung biểu DSTT cũng như học hỏi nhiều điều bổ ích qua các Bản tham luận tại cuộc hội thảo này, đó là lý do dẫn tôi đên với hội thảo khoa học lần thứ II ngày hôm nay.

Đọc thêm tại: http://duongsinhtamthe.blogspot.com/2014/08/moi-quan-he-giua-duong-sinh-bieu-va_15.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: the duc duong sinh nguoi cao tuoi, khỏe mạnh

Mấy nét của hoạt động dưỡng sinh biểu thể p9

17:02 |
Mấy nét của hoạt động dưỡng sinh biểu thể p9

Các hoạt động  trên bình diện rộng ở vùng nông thôn miền núi sâu và xa cũng như 1 đô thị, cùng với các để tài nghiên cứu trên diện hẹp tập trung và được theo dõi chặt chẽ trong năm 2001, và bổ sung lẫn cho nhau, đưa DSTT phát triển thêm 1 bước vể chiểu sâu, đã giúp cho Trung biểu trụ vững và tiếp tục phát triển trong khó khăn nhiểu mặt của năm 2001.
Việc chỉ đạo và tiến tìành tổng kết hoạt động DSTT ba năm qua của tỉnh Phú Yên đã đánh dấu sự trưởng thành, vế mặt tổ chức cũng như đội ngũ HDV DSTT cấp tỉnh, là bài học bổ ích không riêng vói phong trào DSTT các tỉnh phía Nam mà với toàn trung biểu (có báo cáo riêng).
Tóm lại
Hoạt động DSTT năm 2001 đã đạt được những kết quả tốt góp phần nhở bé vào việc nâng cao sức khoẻ, đẩy lùi bệnh tật trong cộng đồng I Có được những kết quả nêu trên là do:
1-  Sự vững vàng và kiên định xuyên suốt của giám đốc trưởng môn cùng biểu đức cao quí: tất cả vì người bệnh, vì cộng đồng.
2-  Tinh thần làm việc hết mình vì sự phát triển của Trung biểu DSTT vì mục tiêu nghiên cứu khoa học I khám phá những khả năng tiềm ẩn trong con người thông qua phương pháp tập luyện DSTT có truyền dân tộc độc "đáo, của tập thể Ban giám đốc và từng thành viên.
3* Đội ngũ HDV DSTT có biểu đức, có hành động sống và làm việc theo gương và sự chỉ đạo tuyệt đối của giám đốc trưởng môn và sự điều hành của Ban giám đốc Trung biểu.
4-  Sự ủng hộ nhiệt biểu của lãnh đạo các cấp Đảng, chính quyền và (toàn thể mậ điển hình của năm 2001 là tỉnh Phú Yên, huyện Phú Xuyên và xã Phúc Tiên (Hà Tây).
5-  Sự cộng tác tận biểu, hết lòng của các Ban chủ nhiệm các CLB, các Ban- tể chức DSTT từ các tỉnh, huyện đến các xâ, phường và cụm dân cư. Với điều kiện khó khăn nhiều mặt của đội ngũ HDV, nếu không có sự cộng tác rất quí báu và tận tình này, Trung biểu DSTT không thể có những số liệu để tập hợp đánh giá...

Đọc thêm tại:

Mấy nét của hoạt động dưỡng sinh biểu thể p8

16:58 |
Mấy nét của hoạt động dưỡng sinh biểu thể p8


Các kết luận của 5 năm trước đây về số lượng nhiều nhất của 2 nhóm bệnh hệ thần kinh và hệ vận động đến với DSTT, về ảnh hưởng tích cực của phương pháp DSTT lên 2 nhóm bệnh này, đã là những căn cứ khoa học vững chắc để trung biểu DSTT tiếp tục giai đoạn hai đề tài "bước đầu tập DSTT đê khắc phục di chứng do nhiễm chất độc hoá học trong chiến tranh (6/2000 - 6/2003) tại địa điểm làng Hữu nghị Việt Nam ở Vân Canh * Hoài Đức - Hà Tây gồm 2 đối tượng:
-  Bị di chứng dưới dạng biểu thần kinh
-  Bị di chứng dạng câm đỉếc bẩm sinh.
Qua 12 tháng nghiên cứu của năm 2001 đã rút ra các kết luận về ảnh hưởng tích cực của tập DSTT với các đối tượng này (có báo cáo riêng).
Cùng chung định hướng trên, cuối năm 2001 Trung biểu DSTT cũng bắt đầu thâm nhập để thăm dò ảnh hưởng phương pháp tập DSTT với các đối tượng là các trẻ em tật nguyền với đề tài: "Bước đầu thử nghiệm DSTT để khắc phục bệnh tự kỷ" tại Trung biểu cứu trợ trẻ em tật nguyền Phúc Tuệ 67 Phó Đức Chính - Hà Nội.
Có thể nói các đề tài nghiên cứu tiếp tục cũ và thăm dò mới trong năm 2001 vừa là sự tiếp tục kháng định một cách sâu sắc hơn các kết luận về điểm mạnh cửa phương pháp tập luyện DSTT, được rút ra từ thực nghiệm DSTT tiến hành đại trà trên diện rộng trong suốt 5 nảm trước đó (1995 I 2000), vừa là sự mở ra những tiềm ẩn của phương pháp DSTT có truyển độc đáo, bồi dưỡng và sử dụng năng lượng sinh học - năng lượng tám - thể để chống ỉại các loại bệnh mang tính thời đại, góp phần làm vơi đi nỗi đau, làm lành mạnh hơn đòi sống tầm, thể trong cộng đổng.

Các hoạt động  trên bình diện rộng ở vùng nông thôn miền núi sâu và xa cũng như 1 đô thị, cùng với các để tài nghiên cứu trên diện hẹp tập trung và được theo dõi chặt chẻ trong năm 2001, bổ sung lẫn cho nhau, đưa DSTT phát triển thêm 1 bước vể chiểu sâu, đã giúp cho Trung biểu trụ vững và tiếp tục phát triển trong khó khăn nhiểu mặt của năm 2001.

Đọc thêm tại: http://duongsinhtamthe.blogspot.com/2014/08/may-net-cua-hoat-ong-duong-sinh-bieu-p9.html


Từ khóa tìm kiếm nhiềuduong sinh tam the, khoe manh

Mấy nét của hoạt động dưỡng sinh biểu thể p7

16:54 |
Mấy nét của hoạt động dưỡng sinh biểu thể p7

Từ các số liệu thông kê theo cách trên cho phép nhận xét đánh giá như sau về hiệu quả tập DSTT:
1-    Tỷ lệ ca bệnh giảm từ phân nửa (40*50%) đến khỏi hoàn toàn, chiếm 7753 ca = 57,8% (bình quân cho tất cả các hệ bệnh trên tất cả các điểm tập) tâng hơn so với chỉ số này của ỗ năm vể trước (tính bình quân trong I năm trước là 52%).
2-    Tỷ lệ ca bệnh giảm dưới 40% là 24%
3- Tỷ lệ ca bệnh giảm dưới 20% là 15%
4- Tỷ lệ ca bệnh không thuyên giảm còn lại là trên 3%
5- Không cớ phản ứng phụ
Kết quả này một lần nữa khẳng định hiệu quả khá cao của phương pháp DSTT đối với nâng cao sức khoẻ, đẩy lùi bệnh tật trong cộng đồng. Tuy nhiên vi tác dụng của tập DSTT với mỗi cơ thể người bệnh, với mỗi điểm, lớp tập ở các địa phương khác nhau phụ thuộc vào định biểu, sự bền bỉ kiên trì, tình trạng sức khoẻ, tính trong sáng và tính hướng thiện trong biểu người tập, nhất là yếu tố biểu, đức, sức của HDV... Sự quan biểu và nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ của các cơ quan, Đảng, chính quyền, đoàn thế các cấp tạo mọi điểu kiện thuận lợi là yếu tố rất quan trọng. Tất cả các yếu tố khác nhau trên tạo nên hiệu quả khác nhau cho từng người và từng vùng dân cư. Ví dụ: Tỷ lệ giảm bệnh từ phân nửa đến khỏi hoàn toàn các loại bệnh theo địa phương xã Cốt Thành, Trực Ninh, Nam Định là 40%; ở 93 Láng Hạ I Đông Đa I Hà Nội; ở Tiểu khu Thao Chính, Đông Đoài - Phú Xuyên - Hà Tây là 42%, 48% và 48,2%. Trong khi ở Bình Đình, xã Nam Phong, Phú Xuyên - Hà Tây và xã Hải Phương I Hải Hậu I Nam Định là 57%, ở tỉnh Phú Yên là 63,2%. Trong khi ở CLB 1/10 Mai Dịch - Cầu Giấy - Hà Nội là 78%, tại trung biểu cai nghiện Hoà Bình là 76,5%. Tỷ lệ giảm bệnh của các hệ bệnh năm 2001 cũng giống các năm trưóc đây, hiệu quả tập DSTT vởi tỷ lệ giảm bệnh từ phân nửa đến hoàn toàn của 2 hệ bệnh là hệ thần kinh và hệ vận động cũng rất cao và cao nhất so vối các hệ bệnh khác và cũng khấc nhau theo từng địa phương. 
 Ví dụ: Bình quân toàn quot là 63,4% vối hệ thần kinhvà 52,3% vối hệ vận động, nhưng I Bình Định, các chỉ số tương ứng này là 63,7% và 75,2%; ở Gia Lâm I Hà Nội là 86,9% và 62,4%; ở Mai Dịch * cầu Giấy - Hà Nội là 86,9% và 62,4%. Cao nhất là Ü Trung biểu cai nghiện Hoà Bình: 100% và 94%. Nghiên cứu thăm dò tác động của tập luyện DSTT đôi với các bệnh "cơ hội” sau cai nghiện đã cho kết quả bước đầu rất lý thú nhưng hoàn toàn không bất ngò. Bởi điểm mạnh của DSTT chính- là sự tác động vào thẳng Trung ương thần kinh ; não bộ. Kết quả này mở ra một hướng đi mới để đấu tranh căn bệnh xã hội, căn bệnh thế kỷ đang thách thức chúng ta không chỉ trong phạm vi dân tộc mình mà mang tính toàn cầu..



Từ khóa tìm kiếm nhiềudưỡng sinh tâm thểkhỏe mạnh